Xoay quanh việc tăng thuế giá trị gia tăng: Tác động như thế nào đến người mua và người bán?
Theo chỉ đạo của Chính phủ, mới đây Bộ Tài chính đã đề suất tăng mức thuế giá trị gia tăng thông qua dự thảo Luật sửa đổi bổ sung 5 Luật thuế. Theo đó, mức thuế suất VAT được điều chỉnh tăng từ 10% lên 12% và 14% (2 phương án tăng thuế). Thứ trưởng Bộ Tài chính đã giải trình với dư luận rằng tăng thuế suất VAT là phù hợp với thông lệ và xu hướng quốc tế, sẽ không ảnh hưởng quá nhiều đến người tiêu dùng đặc biệt là người có thu nhập thấp. Tuy nhiên, theo ý kiến của tôi, tăng thuế VAT lại có tác động đặc biệt lớn đối với họ. Ngoài ra, tăng thuế VAT còn tác động đến cả việc kinh doanh của Doanh nghiệp.
Hơn nữa, đối với người nghèo, phần chi phí tăng thêm do trực tiếp hoặc gián tiếp từ thuế VAT chiếm tỷ trọng trong tổng thu nhập cao hơn so với con số này ở người giàu. Tức là khi chi trả cùng một khoản tăng thêm của cùng một sản phẩm, người có thu nhập thấp “tốn kém” hơn người có thu nhập cao. Điều này có thể dẫn đến hiện tượng “thắt lưng buộc bụng” trên diện rộng, tiêu dùng giảm sút, thị trường ảm đạm và rất có thể sẽ dẫn đến suy giảm kinh tế.
Mặc dù tác động đối với người có thu nhập thấp sâu sắc hơn nhưng không có nghĩa là những người có thu nhập cao sẽ không chịu ảnh hưởng nếu như đề xuất tăng thuế giá trị gia tăng được thông qua khi mua các sản phẩm giá “chát” bởi thuế VAT sẽ tính trên tổng của giá trị hàng hoá sau khi có thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.. Ví dụ như xe Audi A8L 2018 – 2019 nhập khẩu từ châu Âu với giá là 107.236 USD, nó sẽ phải chịu 51% thuế nhập khẩu (tương đương khoảng 54.688 USD), thuế tiêu thụ đặc biệt 130% (tương đương khoảng 210.501 USD) và thuế VAT hiện tại là 10% là 37.243 USD. Nếu như tăng thuế giá trị gia tăng lên 12%, người mua sẽ phải trả 44.691 USD tức là tăng thêm 7.448 USD. Sau đó người mua muốn chiếc xe được sử dụng hợp pháp tại Việt Nam thì phải tiếp tục trả lệ phí trước bạ, biển số,…Đây là con số không nhỏ so với giá thành xe trước khi nhập khẩu. Người mua bây giờ sẽ càng phải cân nhắc hơn nữa trong lựa chọn tiêu dùng của mình.
Trước tiên, thuế VAT sẽ áp dụng với hầu hết các sản phẩm thông thường trên thị trường. Mức thuế VAT được tính trên bao bì sản phẩm. Người tiêu dùng khi mua sản phẩm đơn giản căn cứ vào mức giá trên bao bì mà thôi, họ mà đánh giá là đắt đỏ so với túi tiền thì họ sẽ cân nhắc không mua nữa. Và từ đó, thuế VAT đã gián tiếp là trở ngại trong kinh doanh của doanh nghiệp, doanh thu giảm sút, khó khăn.
Hơn nữa, tăng thuế VAT thì Nhà nước cũng cần cân nhắc đến việc một khi tăng thuế thì rất có thể nó sẽ tác động tiêu cực đến công tác phòng chống gian lận thuế. Khi thuế VAT tăng, vấn nạn trốn thuế tăng, các doanh nghiệp có xu hướng lách thuế. Cho nên, đánh thuế cao chỉ khổ cho những doanh nghiệp trong sạch, minh bạch, đóng thuế đầy đủ mà thôi vì họ đưa ra sản phẩm với giá cao hơn giá sản phẩm tương đương của doanh nghiệp lách thuế.
Thay con số từ 10% lên 12% thôi cũng là cả một cuộc thay đổi toàn diện thị trường. Nhà nước trước khi có quyết định cuối cùng đối với vấn đề này cần cân nhắc kỹ lưỡng mọi trường hợp phát sinh nằm trong khả năng dự đoán để duy trì một nền tài chính an toàn, ngân sách ổn định và nền kinh tế phát triển.
Đối với người tiêu dùng
Theo giải trình của Thứ trưởng Bộ tài chính, mức thuế 12% sẽ không áp dụng đối với các trường hợp sản phẩm là lương thực, thực phẩm, y tế, giáo dục mà trong khi những người thu nhập thấp lại sử dụng một phẩn lớn thu nhập vào mục đích này. Từ những tài liệu thống kê của Tổng cục thống kê về tiêu dùng của người dân, Bộ Tài chính nhận định rằng tăng mức thuế VAT như đề xuất sẽ không ảnh hưởng nhiều đến đời sống cơ bản của họ. Tuy nhiên, thực tế, mặc dù thuế VAT không áp dụng với những sản phẩm lương thực, thực phẩm, y tế và giáo dục trực tiếp sản xuất nhưng trong quá trình đưa sản phẩm đến người tiêu dùng, các sản phẩm này phải trải qua rất nhiều thủ tục phải trả thuế giá trị gia tăng. Chẳng hạn như xăng – mặt hàng cơ bản sắp tới không chỉ gánh thuế VAT tăng đến 12% mà còn chịu khoản thuế bảo vệ môi trường được đề xuất tăng từ 3000 đồng đến 8000 đồng – tác động đến phần lớn giá các sản phẩm khác trên thị trường. Sở dĩ như vậy vì giá xăng ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí vận chuyển sản phẩm và tất nhiên những chi phí này được tính vào giá thành của nó. Mỗi sản phẩm lương thực, thực phẩm, y tế hay giáo dục được trực tiếp sản xuất cũng tăng một phần giá do chi phí vận chuyển như vậy thì người tiêu dùng lại phải bỏ thêm một khoản thu nhập để chi trả.Hơn nữa, đối với người nghèo, phần chi phí tăng thêm do trực tiếp hoặc gián tiếp từ thuế VAT chiếm tỷ trọng trong tổng thu nhập cao hơn so với con số này ở người giàu. Tức là khi chi trả cùng một khoản tăng thêm của cùng một sản phẩm, người có thu nhập thấp “tốn kém” hơn người có thu nhập cao. Điều này có thể dẫn đến hiện tượng “thắt lưng buộc bụng” trên diện rộng, tiêu dùng giảm sút, thị trường ảm đạm và rất có thể sẽ dẫn đến suy giảm kinh tế.
Mặc dù tác động đối với người có thu nhập thấp sâu sắc hơn nhưng không có nghĩa là những người có thu nhập cao sẽ không chịu ảnh hưởng nếu như đề xuất tăng thuế giá trị gia tăng được thông qua khi mua các sản phẩm giá “chát” bởi thuế VAT sẽ tính trên tổng của giá trị hàng hoá sau khi có thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.. Ví dụ như xe Audi A8L 2018 – 2019 nhập khẩu từ châu Âu với giá là 107.236 USD, nó sẽ phải chịu 51% thuế nhập khẩu (tương đương khoảng 54.688 USD), thuế tiêu thụ đặc biệt 130% (tương đương khoảng 210.501 USD) và thuế VAT hiện tại là 10% là 37.243 USD. Nếu như tăng thuế giá trị gia tăng lên 12%, người mua sẽ phải trả 44.691 USD tức là tăng thêm 7.448 USD. Sau đó người mua muốn chiếc xe được sử dụng hợp pháp tại Việt Nam thì phải tiếp tục trả lệ phí trước bạ, biển số,…Đây là con số không nhỏ so với giá thành xe trước khi nhập khẩu. Người mua bây giờ sẽ càng phải cân nhắc hơn nữa trong lựa chọn tiêu dùng của mình.
Đối với doanh nghiệp
Thuế giá trị gia tăng là thuế gián thu, doanh nghiệp sẽ chỉ là bên thu hộ Nhà nước khoản thuế này từ người tiêu dùng mà thôi. Vậy tại sao nói tăng thuế giá trị gia tăng sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp?Trước tiên, thuế VAT sẽ áp dụng với hầu hết các sản phẩm thông thường trên thị trường. Mức thuế VAT được tính trên bao bì sản phẩm. Người tiêu dùng khi mua sản phẩm đơn giản căn cứ vào mức giá trên bao bì mà thôi, họ mà đánh giá là đắt đỏ so với túi tiền thì họ sẽ cân nhắc không mua nữa. Và từ đó, thuế VAT đã gián tiếp là trở ngại trong kinh doanh của doanh nghiệp, doanh thu giảm sút, khó khăn.
Hơn nữa, tăng thuế VAT thì Nhà nước cũng cần cân nhắc đến việc một khi tăng thuế thì rất có thể nó sẽ tác động tiêu cực đến công tác phòng chống gian lận thuế. Khi thuế VAT tăng, vấn nạn trốn thuế tăng, các doanh nghiệp có xu hướng lách thuế. Cho nên, đánh thuế cao chỉ khổ cho những doanh nghiệp trong sạch, minh bạch, đóng thuế đầy đủ mà thôi vì họ đưa ra sản phẩm với giá cao hơn giá sản phẩm tương đương của doanh nghiệp lách thuế.
Thay con số từ 10% lên 12% thôi cũng là cả một cuộc thay đổi toàn diện thị trường. Nhà nước trước khi có quyết định cuối cùng đối với vấn đề này cần cân nhắc kỹ lưỡng mọi trường hợp phát sinh nằm trong khả năng dự đoán để duy trì một nền tài chính an toàn, ngân sách ổn định và nền kinh tế phát triển.

Nhận xét
Đăng nhận xét