Dự thảo Luật Tố cáo (sửa đổi): Những quy định mới trong chế định bảo vệ người tố cáo và người liên quan
Mới chính thức có hiệu lực được gần 5 năm nhưng Luật Tố cáo 2011 khi đi vào thực tiễn đã bộc lộ không ít khiếm khuyết. Do hành lang pháp lý lại hạn chế như vậy, nên việc thực hiện quyền tố cáo - quyền cơ bản được quy định trong Hiến pháp - của công dân gặp rất nhiều khó khăn, bất cập. Nhiều trường hợp, người tố cáo bị người bị tố cáo trả thù, khiến họ mất việc làm, hư hại tài sản, đặc biệt là có thể nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe...Vì vậy, cần thiết phải xây dựng hệ thống quy định hiệu quả hơn liên quan đến vấn đề này.
![]() |
| Chế định về bảo vệ được sửa đổi, bổ sung |
Thứ nhất, về tổng quan, dự Luật quy định vấn đề này tại chương VI "Bảo vệ người tố cáo, người thân thích của người tố cáo, người cung cấp thông tin trong quá trình tố cáo" với 18 Điều luật, nhiều hơn hẳn so với số lượng điều luật về vấn đề này của luật hiện hành. Điều này cho thấy sự đầu tư của Nhà nước đến công tác bảo vệ người tố cáo, người thân thích cua người tố cáo và người cung cấp thông tin trong quá trình giải quyết tố cáo. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra cho rằng, các quy định này vẫn còn chưa cụ thể cơ quan nào chịu trách nhiệm chính hay chưa làm rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong công tác này.
Thứ hai, dự thảo Luật Tố cáo sửa đổi đã mở rộng hơn đối tượng được yêu cầu bảo vệ. Thực tế, ngoài người tố cáo, người thân thích của người tố cáo thì người cung cấp thông tin trong quá trình tố cáo và người thân của họ cũng gặp rất nhiều nguy hiểm. Người cung cấp thông tin trong quá trình tố cáo có thể là người nắm giữ những tài liệu, thông tin mang tính mấu chốt để chứng minh hành vi vi phạm của người bị tố cáo nên nếu thiếu họ, việc đưa những thông tin này ra ánh sáng trở nên khó khăn hơn nhiều. Do đó, họ và người thân có thể bị đe dọa, trả thù, trù dập,...gây nên những hậu quả khó lường. Quy định mở rộng đối tượng được bảo vệ này nhìn chung đã giúp những người cung cấp thông tin yên tâm hơn trong quá trình hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần xử lý những vi phạm còn tồn tại xung quanh.
Thứ ba, dự Luật đã giành một mục trong chương VI để quy định về trình tự, thủ tục bảo vệ người được bảo vệ. Luật Tố cáo hiện hành chưa có sự thống nhất với Nghị đinh 76/2012/NĐ-CP về trình tự, thủ tục trong việc bảo vệ người tố cáo, người thân của người tố cáo, người cung cấp thông tin trong quá trình giải quyết tố cáo nên đã gây nên rất nhiều hạn chế cho cả người cần được bảo vệ và cơ quan chức năng khi thực hiện quy trình bảo vệ. Việc bổ sung những quy phạm về trình tự, thủ tục là điểm tiến bộ cơ bản, nếu được thông qua sẽ giúp các cơ quan Nhà nước và người dân có cơ sở rõ ràng, hiệu lực cao để thực hiện các quyền và nghĩa vụ.
Thứ tư, một trong ba mục chính trong dự thảo Luật tố cáo sửa đổi là các biện pháp bảo vệ. Mặc dù các biện pháp bảo vệ cũng được Luật hiện hành quy định nhưng lại chưa đủ chi tiết. Ví dụ, ở việc bảo vệ bí mật thông tin về người bảo vệ, ở Luật hiện hành, Nhà nước chỉ quy định rất chung chung khi chỉ nói về họ phải có "trách nhiệm", "biện pháp cần thiết" thế nhưng lại không quy định rõ hơn các biện pháp cụ thể có thể là gì. Dự Luật đã phần nào giải quyết được vấn đề này khi đã đưa ra những biện pháp cụ thể hơn:
"1. Lược bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin cá nhân khác của người tố cáo ra khỏi đơn tố cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo để quản lý theo chế độ mật khi giao đơn tố cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân xử lý, xác minh, giải quyết tố cáo hoặc khi chuyển đơn tố cáo.
2. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan giữ bí mật thông tin về người được bảo vệ.
3. Bố trí thời gian, địa điểm và lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin cho người được bảo vệ khi làm việc trực tiếp với người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan."
Thứ năm, dự thảo Luật sửa đổi đã định nghĩa "có căn cứ" - khái niệm được nhắc đến rất nhiều trong chương nhưng Luật Tố cáo lại không đưa ra giải thích. Theo dự Luật "Căn cứ về việc đã hoặc sẽ bị xâm hại được hiểu là đã bị xâm hại hoặc có sự đe dọa xâm hại ở mức độ nguy hiểm đáng kể hoặc căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo và vai trò quan trọng của người cung cấp thông tin phục vụ cho quá trình giải quyết tố cáo, ..." Mặc dù đã chi tiết hơn nhưng nhìn chung, khái niệm này vẫn khá khó nắm bắt. Thiết nghĩ, người làm luật nên liệt kê một số hành vi vi xâm hại hoặc hướng dẫn thi hành chi tiết trong Nghị định hướng dẫn.
Trên đây là một số điểm mới tiêu biểu của dự thảo Luật sửa đổi so với Luật Tố cáo 2011. Mong rằng, quá trình xây dựng Luật Tố cáo sửa đổi sẽ có nhiều ý kiến đóng góp tích cực để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người tố cáo cũng như làm sạch những hành vi vi phạm còn tồn tại trong thực tiễn.

Nhận xét
Đăng nhận xét