Dự thảo Luật Cạnh tranh sửa đổi: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Đã 12 năm kể từ ngày Luật Cạnh tranh hiện hành có hiệu lực, Luật Cạnh tranh đã và đang đạt được những thành tựu nhất định trong công tác giữ gìn một môi trường kinh doanh lành mạnh. Tuy nhiên, theo thời gian, Luật Cạnh tranh 2004 đã không còn giữ mãi được hiệu quả của mình khi các quy định của nó dần không phù hợp với thực tiễn. Với việc gia nhập WTO vào năm 2007, nền kinh tế Việt Nam có những bước tăng trưởng nhảy vọt và kèm theo đó đương nhiên là rất nhiều thách thức. Với bối cảnh như vậy, cần thiết phải có một thiết chế mới để pháp luật có thể bắt kịp thực tiễn. Trước tình hình như vậy, mới đây Chính phủ đã trình lên Ủy ban thường vụ Quốc hội và xin ý kiến góp ý đối với dự thảo Luật Cạnh tranh sửa đổi.
Hạn chế của Luật Cạnh tranh hiện hành
![]() |
| Ảnh minh họa |
Thứ nhất, các quy định của Luật hiện hành chỉ quy định bề nổi của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Thật vậy, Luật 2004 khi nói đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thì chỉ quy định các hình thức biểu hiện bên ngoài, rất cứng nhắc. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được liệt kê thành 8 thỏa thuận cụ thể tại Điều 8 Luật Cạnh tranh 2004. Việc liệt kê 8 thỏa thuận cơ bản như vậy thực tế không thể bao quát hết tất cả các loại thỏa thuận có bản chất phản cạnh tranh cần bị cấm. Chẳng hạn, đối với những thỏa thuận giữa các doanh nghiệp về mức giá trần, mức giá sàn nếu như là thỏa thuận của những "ông lớn" có thị phần đáng kể thì hành vi này trở nên ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường. Nó có thể là bước kết hợp "thâu tóm thị trường" của các chủ thể thỏa thuận và đối thủ cạnh tranh của họ dần lụi bại. Tương tự, những thỏa thuận như quy định giảm giá hoặc tăng giá (mà không quy định cụ thể mức tăng, giảm) hay thỏa thuận duy trì giá bán cho bên thứ ba...cũng trực tiếp ảnh hưởng đến thị trường, có bản chất phản cạnh tranh nhưng không được quy định trong Luật.
Thứ hai, thực tế rất nhiều vụ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có "tác giả" là Hiệp hội đứng sau tổ chức, lôi kéo, "giật dây" các doanh nghiệp và giám sát thực thi thỏa thuận đó. Như vậy, những hành vi không được quy định trong Luật của các Hiệp hội lại tiếp tay cho họ thực hiện ý đồ phản cạnh tranh của mình.
Dự thảo Luật Cạnh tranh sửa đổi
Nắm bắt được thực trạng đó, dự thảo Luật Cạnh tranh sửa đổi đã có những điểm tiến bộ khắc phục trực tiếp nhược điểm nêu trên. Cụ thể như sau:
Dự thảo bổ sung thêm một số hành vi mới được quy định là hành vi thỏa thuận hạn chê cạnh tranh. Dự Luật quy định ngoài 8 loại thỏa thuận như Luật hiện hành thì các thỏa thuận ấn định giá bán lại hàng hóa - dịch vụ, thỏa thuận không giao dịch với tổ chức - cá nhân khác, thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp khác đều là những hành vi có bản chất phản cạnh tranh. Khi không được điều chỉnh thì nó trở thành điểm hổng giúp các đối tượng có ý đồ phản cạnh tranh lợi dụng nên việc bổ sung những hành vi này vào dự thảo là hợp lý, góp phần cải thiện tình trạng này.
Hơn nữa, dự Luật còn quy định thêm “thỏa thuận khác" theo định nghĩa về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Tức là thực tiễn các cơ quan xử lý chỉ cần có căn cứ xác định theo định nghĩa là có thể đánh giá được hành vi đang xem xét có phải là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay không. Theo Khoản 7 Điều 3 của dự Luật "Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là cam kết hoặc sự ràng buộc giữa các bên dưới mọi hình thức có tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường". Quy định này đã mở ra cho cơ quan xử lý cạnh tranh tiêu chí để xác định hành vi vi phạm, thay vì chỉ áp dụng 8 thỏa thuận cứng nhắc như Luật hiện hành, tránh bỏ lọt những hành vi có bản chất phản cạnh tranh.
Kèm theo đó, dự Luật quy định cấm các doanh nghiệp thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường. Như vậy, thay vì căn cứ vào thị phần của các bên để cấm (một loại tiêu chí thực tế rất khó để xác định) thì dự thảo Luật mới đã quy định tổng quát hơn. Theo sau nó, dự Luật cũng quy định về đánh giá mức độ tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.
Ngoài ra, để tránh các trường hợp các tổ chức như Hiệp hội đứng sau điều chỉnh thị trường theo hướng có lợi cho họ bằng việc "giật dây" các doanh nghiệp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, Chính phủ đã đề xuất một số quy định về vấn đề này. Vận động, kêu gọi, dụ dỗ, ép buộc các doanh nghiệp tham gia vào thoả thuận hạn chế cạnh tranh, cung cấp thông tin nhằm hình thành các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm là các hành vi được quy định là vi phạm pháp luật.
Hơn nữa, dự Luật còn quy định thêm “thỏa thuận khác" theo định nghĩa về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Tức là thực tiễn các cơ quan xử lý chỉ cần có căn cứ xác định theo định nghĩa là có thể đánh giá được hành vi đang xem xét có phải là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay không. Theo Khoản 7 Điều 3 của dự Luật "Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là cam kết hoặc sự ràng buộc giữa các bên dưới mọi hình thức có tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường". Quy định này đã mở ra cho cơ quan xử lý cạnh tranh tiêu chí để xác định hành vi vi phạm, thay vì chỉ áp dụng 8 thỏa thuận cứng nhắc như Luật hiện hành, tránh bỏ lọt những hành vi có bản chất phản cạnh tranh.
Kèm theo đó, dự Luật quy định cấm các doanh nghiệp thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường. Như vậy, thay vì căn cứ vào thị phần của các bên để cấm (một loại tiêu chí thực tế rất khó để xác định) thì dự thảo Luật mới đã quy định tổng quát hơn. Theo sau nó, dự Luật cũng quy định về đánh giá mức độ tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.
Ngoài ra, để tránh các trường hợp các tổ chức như Hiệp hội đứng sau điều chỉnh thị trường theo hướng có lợi cho họ bằng việc "giật dây" các doanh nghiệp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, Chính phủ đã đề xuất một số quy định về vấn đề này. Vận động, kêu gọi, dụ dỗ, ép buộc các doanh nghiệp tham gia vào thoả thuận hạn chế cạnh tranh, cung cấp thông tin nhằm hình thành các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm là các hành vi được quy định là vi phạm pháp luật.
Những sự thay đổi này là những điểm mới hợp lý, khả năng cao sẽ tác động tích cực đến thị trường, hỗ trợ nhiều hơn cho công tác quản lý cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh. Hiện nay dự thảo vẫn chưa được thông qua và đang đón nhận mọi ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho môi trường cạnh tranh trong kinh doanh.

Nhận xét
Đăng nhận xét